Núi

July 7th, 2014 § 1

Làng nằm ở chân núi. Dãy núi thấp, bên sườn có một trảng đất trống nhìn như con ngựa trắng đang phi về phía tay phải. Có người nói đó là ngọn Gành Ngựa, nhưng tôi không chắc. Chỉ biết, ai ở xa về, thấy con ngựa trắng lẩn khuất trong những cụm mây trắng như khói bay là đà là biết đã gần đến nhà.

Bên kia núi là Quế Sơn. Làng tôi quê mùa cục mịch, không có bài hát nào, nhưng Quế Sơn thì có. Những khi nhớ quê tôi thường mở Quế Sơn đất mẹ ân tình, nghe nhạc sĩ Đình Thậm tả ruộng kề chân núi mà nghĩ đến quê mình. Quê tôi cũng có ruộng kề chân núi vậy. Như Võ Hồng trong Đi trong bóng lá viết “cũng ruộng, cũng tre, cũng núi.” Rồi ông lại viết thêm: “Nhưng đó là quê hương tôi.”

Tôi chưa lên núi bao giờ. Con nít không được đi núi. Chỉ có người lớn mới đi núi. Người lớn đi núi, nắm cơm rắc muối mè bọc trong lá chuối, lưng giắt cái rựa, tay cầm đòn xóc. Họ đi từ gà gáy, tiếng bước chân thình thịch trên đường, vừa đi vừa kêu “Anh Bốn đi chưa anh Bốn?” Đến giờ tôi vẫn không biết họ lên núi làm gì. Nhưng độ vài ngày thì họ về, mang theo chùm chà là, chùm dèo, hoặc một bao hạt đười ươi. Trái chà là màu đen, ăn ngọt. Hạt đười ươi sần sùi, ngâm nước thì nở ra bằng cái bát, ngậm vào miệng thì tan ra. Hột dèo màu vàng đỏ, nhỏ bằng đầu ngón tay út, nhưng tôi không còn nhớ mùi vị thế nào. Những cái chợ sau này tôi đi qua, từ Bắc vào Nam, không thấy người ta bán dèo. Tôi hỏi ở đây có dèo không, người trong chợ nhìn tôi, tưởng tôi nói ngọng.

Trên núi có trại xẻ gỗ. Tôi biết vậy vì cứ tới mùa lụt, nước sông dâng lên, gỗ lại từ thượng nguồn đổ xuống. Cứ tới mùa lụt, trời mưa dầm dề, lạnh cắt da cắt thịt, người trong làng lại bơi ghe ra vớt gỗ. Mỗi ghe vậy là hai người, một người đằng mũi, một người đằng lái. Nhà nào chỉ có một đàn ông thì rủ nhà khác vớt chung. Hai người, một người đằng mũi, một người đằng lái, ở trần dưới trời mưa dầm dề, lạnh cắt da cắt thịt, cứ luân phiên nhau người chèo người vớt. Vớt được gỗ thì bán lấy tiền chia nhau. Có những khối gỗ lớn đã được cưa bào vuông vức, ở góc có đánh dấu mực. Có những cây gỗ mới róc cành nhánh, còn nguyên vỏ. Lại có những tấm gỗ xẻ to như cái bàn, buộc lại với nhau mười tấm một bằng dây thừng. Bác họ tôi có năm vớt được mấy khối gỗ như thế, tiền bán gỗ đủ làm lại cái nhà trên. Nhưng thường thì người ta không vớt được gỗ, mà chỉ được dăm cành cây gãy cùng với những rác rều, đợi ngày nắng lên thì đem ra phơi làm củi đốt. Có năm, người ta vớt được xác thợ gỗ chết trôi, trên cánh tay có hình xăm. » Vẫn chưa hết, bấm đây để đọc «

Chuyện đò

July 4th, 2014 § 2

Từ làng sang Phú Đa bằng một con đò.

Có điều, con đò ở quê tôi nó không hề lãng mạn như con đò trong ca dao hay trong thơ Nguyễn Bính. Trong ca dao con đò nằm dưới cây đa để trai gái lấp lửng chuyện đợi chờ hò hẹn. Trong thơ Nguyễn Bính có anh lái đò mơ mộng lang thang tôi dạm bán thuyền—có người trả chín quan tiền lại thôi. Con đò quê tôi, nó chỉ là một cái thuyền vá víu hay nằm ghếch mũi trên bờ sông cát trắng nắng như đổ lửa. Còn anh lái đò, thì không có anh lái đò nào cả, chỉ có mỗi ông Hai Nồi.

Ông Hai Nồi không biết thơ Nguyễn Bính, cũng không đọc ca dao. Ổng mặc cái áo ka-ki bạc lưng, đội cái nón cời rách teng beng, da ổng đen thui như lọ nghẹ. Nhưng ông Bốn Kiệt nói “Họ kêu thằng Hai Nồi là thằng Hai Nồi không phải tại da hắn đen, mà là tại hồi trẻ hắn ăn tham lắm, mỗi bữa hắn ăn cơm tới hai nồi.”

Bàn tay phải của ông Hai Nồi bị cụt đến bốn ngón, chỉ còn ngón cái. Khi chèo, ổng phải kẹp cây dầm vào khuỷu tay. Theo lời ổng kể thì ổng bị vậy là vì hồi chiến tranh ổng đi lính bị dính mảnh đạn, phải đưa về bệnh viện thương phế binh ở An Hải. Ổng nói bàn chân ổng bị tật cũng vào lần ấy. Nhưng ông Bốn Kiệt nói “Thằng Hai Nồi hồi trẻ hắn đói quá, nửa đêm chui vô vườn ăn cắp khoai lang, bị dân họ bắt đánh cho dập tay chớ bom đạn cái chi chi.” Khi người ta quay qua hỏi ông Hai Nồi thì ổng trợn mắt lên, dí tay vào mặt người ta mà quát “Ngó cho kĩ đi, cái sẹo trơn lĩn như ri mà là bị đánh dập tay à?”

Làng ai cũng biết ông Hai Nồi, vì làng ai cũng đi đò qua sông không nhiều thì ít. Ngày thường cũng như ngày Tết, ổng ở ngoài sông từ sáng đến chiều. Buổi trưa vắng khách, ổng ngồi đằng mũi đò, chân phải bắt qua chân trái, cắm mặt xuống ăn cơm. Những khi có khách thì ổng đứng đằng lái, người ổng khòm khòm, bàn chân trái ổng lệch hẳn sang một bên, tạo với bàn chân phải một góc vuông. Trong sách viết “Tiểu thuyền bất kham trọng tải,” ổng nghe lỏm chữ được chữ mất thành “Thuyền chở bất khả kham chở khối lượng.” Khách của ổng thường là mấy bà đi chợ, trong khi các bà bàn bô bô chuyện con gà mớ rau thì ổng hóng hớt mỗi nơi một chút, lâu lâu lại chêm vào câu “Thuyền chở bất khả kham chở khối lượng,” rồi ổng giơ ngón cái bàn tay phải lên, và ổng cười có vẻ rất đắc ý.

» Còn nữa chưa hết, bấm vào đây để đọc tiếp đừng ngại «

Lại không có tựa

June 3rd, 2014 § 0

Nó tên là Thành, Trương Minh Thành. Mẹ nó là bà Hạnh. Ba nó là ông Hai Cụt. Nó có một con chị, tôi đã quên mất tên, với một đứa em gái là bé Thuyền. Nhà nó nằm bên đường kiệt dẫn ra sông. Đó là một căn nhà nhỏ như bàn tay, cột bằng gỗ sầu đâu, kèo tre, mái tranh, ban ngày trời nắng chang chang trong nhà vẫn tối lờ mờ. Trước nhà là một mảnh sân được quây bằng hàng chè tàu, có bụi phù dung nở hoa trắng. Ngày ấy về phương diện trang trí đường diềm, hình như cả làng tôi nhà nào cũng trồng mỗi hai thứ cây là phù dung với dâm bụt, nhà nào có óc thẩm mĩ khá khẩm hơn chút thì có thêm mấy cây đinh lăng chỗ kia chỗ nọ. Tôi còn nhớ hoa phù dung đóa nào đóa nấy to như cái bát, trông rất thô thiển, không có mùi gì đặc sắc, sáng nở tối tàn, và cứ gặp mưa thì rụng nhão nhoẹt trên nền đất nhìn vô cùng bẩn thỉu, có thể nói không ngoa là một loài hoa thiểu năng.

Thằng Thành học cùng lớp với tôi từ mẫu giáo, chưa bao giờ nổi tiếng về trí tuệ phi thường. Nhà nghèo không có tiền mua sách, mỗi buổi học nó kẹp độc cuốn vở nhàu nhĩ vào nách đi tới lớp, văn toán gì cũng một cuốn ấy. Nó ngồi cúi gằm xuống viết, bả vai nhô lên, mồ hôi chảy thành dòng, mặt mày áo quần tèm lem mực. Mỗi lần nó viết sai một chữ, thầy Dũng lại bắt nó xòe tay ra trên bàn, rồi lấy cây thước kẻ, vận hết sức bình sinh đập kêu “bép” một phát, làm cả người nó nảy lên trên ghế. Bữa học nào tan, hai bàn tay nó cũng sưng vù. Nhưng nó không khóc, mặt nó cứ lầm lì, giống như đã quen.

Nó học hành chẳng ra gì, cũng chẳng có tài năng gì đặc biệt, nhưng bọn con nít xóm tôi đứa nào cũng thích chơi với nó, nhờ mấy món đồ chơi ba nó làm cho. Ông Hai Cụt bị cụt một chân, đi cà nhắc cà nhắc rất khổ sở, làm nghề đốn tre mướn. Quê tôi ngày ấy nhà nào cũng có mấy bụi tre gai mọc dày đằng sau vườn, nhìn ra bãi dâu bờ sông. Ổng lê cái chân phải bằng nhôm quấn mấy lớp giẻ rách, một tay cầm cái rựa quéo, tay kia vác cái thang, đi lộc cộc từ đầu xóm đến cuối xóm, đầu làng đến cuối làng, đầu xã đến cuối xã, hoặc những mùa kém việc thì cà nhắc xuống đến tận Xuân Nam, Đại Cường. Nhà nào cần đốn tre bán lấy tiền, hoặc muốn phạt bớt cành nhánh cho gọn, thì kêu. Ổng vác thang vác rựa ra vườn, dựa cái thang vào bụi tre, trèo lên từng bậc từng bậc bằng một chân, vung rựa chặt. Xong xuôi người ta cho ổng mấy nghìn đồng, ổng lại vác thang vác rựa về kèm theo gốc tre khô với mấy cái mo nang làm củi, không quên mấy nhánh tre để làm đồ chơi cho thằng con. Ống thụt của thằng Thành lúc nào cũng kêu rất đanh. Diều của nó lúc nào cũng bay phần phật. Tới kì trung thu, lồng đèn của nó lại hoành tráng nhất. Nó cõng con bé Thuyền sau lưng, tay con bé cầm cái lồng đèn to tướng trong cắm cây đèn cầy, hai anh em cứ thế dẫn lũ con nít tụi tôi đi vòng vòng trên con đường cái mấp mô đất cho đến khuya.

Một bữa tôi đi học về thì nghe nhà nó có tiếng lao xao đằng nhà thằng Thành. Chắc các bạn cũng đoán ra rồi — tôi không có tài viết những chuyện giật gân — ông Hai Cụt chết. Ổng trèo thang chặt tre, thang ngã về phía sau, ổng cũng ngã về phía sau, đầu đập thẳng xuống đất, vỡ ót mà chết. Người ta đặt ổng trên chính cái thang của ổng, phủ cái mền lên, rồi khiêng ổng từ Khe Tân về. Dọc đường máu ổng nhỏ xuống đất ban đầu thành vệt, sau thành từng giọt. Khi tôi chạy xuống thì ổng được đặt nằm trên cái chõng tre, cái mền vẫn phủ ngang mặt, dưới đầu giường có mấy vết máu màu nâu sẫm trong ánh sáng lờ mờ của căn nhà nhỏ như bàn tay. Bà Hạnh nằm lăn ra đất cào cấu giãy giụa. Con chị thằng Thành cũng nằm ra đất lăn qua lăn lại, luôn miệng hờ “Ba ơi ba chết đàng chết sá thê thảm quá,” người ta nói ban đầu nghe cũng thương, nhưng nghe đi nghe lại thì phát chán cả tai, nên bỏ về hết. » Vẫn chưa hết, bấm đây để đọc «

Một con đường ở Tampines

April 15th, 2014 § 0

Thường thì tôi ít khi đưa cuộc sống cá nhân lên mạng. Facebook của tôi không có hình kệ sách, phòng ngủ, bàn làm việc hay những thứ tương tự. Nhưng hôm nay thì tôi muốn kể một chút về tôi, ở Singapore. Vì dù gì thì tôi cũng đã ở đây được hơn một năm. Sẽ là những chuyện vụn vặt thôi, chắc là không làm hài lòng được nhà phê bình văn học nào.

Tôi sống ở một nơi gọi là Toa Payoh. Nơi này nằm ở khu trung tâm của Singapore, gần Novena, Newton, Ang Mo Kio, và một địa điểm rất quen thuộc với tầng lớp thượng lưu của Việt Nam là Orchard. Những người khá giả ở Việt Nam hay qua mua sắm ở Orchard. Khu tôi ở ngày trước là một cái đầm lầy – Toa Payoh đọc theo giọng Phúc Kiến nghĩa là cái đầm lầy lớn. Phòng tôi thuê nằm ở tầng thứ 29 của một chung cư, buổi khuya đứng bên cửa sổ nhìn xuống thấy nhiều ánh đèn và hồ bơi, và đằng xa có một chiếc ô tô đang chạy lên cầu. Gần nhà cũng có một cái công viên, gọi là Toa Payoh Central Park. Giữa công viên có một cái hồ nhỏ, mọc nhiều cỏ lác cao ngang ngực. Công viên không đông, tối tối chỉ có vài người đeo tai nghe lững thững đi dạo. Cũng không có tiếng dế kêu. Đồng nghiệp của tôi nói, lần cuối cùng tao nghe tiếng dế kêu là năm tao bảy tuổi.

Tôi ở đây không có bạn. Đôi lúc cũng có một vài người bạn ở Việt Nam qua. Những lúc ấy thường thì chúng tôi đi uống bia ở Clarke Quay. Clarke Quay ngày xưa là một bến cảng để người ta bốc dỡ hàng, nay là một khu ăn uống sầm uất bậc nhất Singapore. Chúng tôi ngồi vừa uống bia vừa nhìn ra bờ sông, nơi có hai chữ CQ lớn – một chữ màu xanh da trời, một chữ màu xanh lá cây – và nói những chuyện cũ. Chuyện ngày xưa đường Nguyễn Huệ cũng là một con kênh dẫn ra bến sông. Hay chuyện bến Bình Đông. Bến Chương Dương. Bến Nghé. Bến Thành. Rồi nói sang kênh Tàu Hủ. Cầu Ông Lãnh. Rồi chuyện ông lãnh binh Thăng. Chuyện ông thủ Đức. Ông thủ Thừa. Bạn biết đấy, những người đã chết. Khi uống say người ta có thể nói đủ thứ chuyện trên đời, và tin là mình làm được đủ thứ chuyện trên đời. Xong rồi chúng tôi xuống ga tàu điện ngầm về. Bạn tôi quên mua vé, cứ thế đi thẳng qua cửa, và chúng tôi cùng cười ha ha vì tiết kiệm được một đô la hai mươi xu tiền Singapore.  » Còn nữa chưa hết, bấm vào đây để đọc tiếp đừng ngại «

Vẫn chết mỗi ngày

April 6th, 2014 § 3

Vậy mà em đã bơi đi. Liệu em có biết rằng không bao giờ em có thể biến thành cá hay không? Em sẽ không thể bơi tới Ixxưc-kun, không thấy được con tàu trắng, và không thể nói với nó: “Chào ngươi, con tàu trắng, tao đây mà!”

Đó là một đoạn trong cuốn sách mà tôi rất thích. Tôi đọc cuốn sách ấy từ lâu lắm rồi, hồi tôi còn nhỏ tuổi. Cuốn sách ấy có một lão già bô bô, ta gọi là lão Mômun nhanh nhảu, với một con hươu to lớn quái dạng, ta gọi là Mẹ Hươu Sừng, và một con tàu chỉ nhìn thấy được ở phía xa xa nơi chân trời một cách đầy bất lực, ta gọi là Con Tàu Trắng. À và những con người man rợ nữa. Bọn người man rợ này mới chặt đầu con mẹ Hươu Sừng làm thịt ăn, cười hô hố, gào thét, uống rượu say bí tỉ. Còn thằng bé kia thì đau đớn, kinh hãi, tuyệt vọng, phát rồ phát dại, bước ra sông, nhảy tõm xuống, rồi bơi ra biển, ta gọi là chết trôi.

Nhưng tôi không định bàn dông dài về cái chuyện tình rau muống biển đậm chất Nga Xô ấy. Tôi chỉ là một sự liên hệ về những sự kiện gần đây thôi. Rồi nghĩ rằng ồ nếu mà ta viết lại cuốn Con Tàu Trắng ấy thì ta sẽ viết thế nào cho nó hợp thời.

Thế là em cũng ra đi. Người ta nói em tự sát… 

 Nhưng nghĩ cũng lạ, chừng ấy tuổi mà đã biết thắt một sợi dây đúng cách để treo cổ rồi. Cái thời đại chúng ta đang sống đây, cái thời đại mà mọi và người vẫn hay bô bô là hạnh phúc nhất nhì thế giới này, nói về cái chết và tìm đến cái chết sao mà dễ dàng quá thế? Một đứa bé biết uống một lần mười mấy viên thuốc ngủ. Một đứa bé nhảy từ trên sân thượng. Hồi nhỏ tôi làm quái gì biết những thức ấy, tôi mặc quần mà còn quên kéo phẹc mơ tuya hoài hoài, thế còn bữa nào nhớ kéo thì kẹp ngay vào chim và gân cổ chửi thằng cha thợ may không tận tụy với nghề bên Phú Đa. Một đứa bé biết rạch tay… Tôi nhớ lần đầu tiên nghe nói có người bị đánh chết trong trụ sở công an phường, tôi và bạn bè tôi, chúng tôi đã ngơ ngác và căm giận như thế nào. Tôi nhớ lần đầu tiên đọc tin ông lão làm đắm đò, chết mười tám học sinh, bạn tôi đã khóc như thế nào. Nhưng rồi lại thêm một người chết, lại thêm một con đò đắm, một người nữa chết, một chiếc du thuyền đắm, một người nữa lại chết, cái dân tộc ngàn năm ngái ngủ của chúng ta chết nhiều hơn mức cần thiết, nhiều tới mức khiến cho cái chết trở nên một thứ gì đó rất bình thường. Đắm đò thì ăn thua gì, khi bây giờ đến cây cầu treo chuyên dùng để đưa ma cũng đòi sập, và người ta phải chui vào bao bố để qua sông? Cái chết có là gì, khi ngay đến cái sống cũng đã trở thành một sự rất vô lí? Một con người chết đi bây giờ cùng lắm cũng chỉ trở thành chủ đề bàn tán bên li cà phê được một chút, rồi thôi. Chú bé mười hai tuổi biết treo cổ của tôi, nếu có li cà phê ngon ngon thì người ta sẽ nhắc đến em một chút rồi thôi. Em đâu phải ca sĩ hát hay đến nỗi phát chứng tắc ống đái, cũng chẳng phải diễn viên đóng hay đến độ ung thư dái. Em đâu có một thời oai hùng để ria mép đóng phim đánh bạc và đến cuối đời nợ đầm đìa các khoản, ngồi ngoác mõm chửi con cháu vô ơn. Em không đi vòng quanh thế giới với bảy trăm đô và một cái ống đồng đúng thiệt là đồng. Em chưa có râu quai nón, hậu quả nhãn tiền là em kém đẹp trai. Xã hội không lên cơn nứng vì em. Nái xề không lên cơn nứng vì em. Em không phải giải phẫu cho cái mặt giống Lý Hùng, nhưng em cũng chẳng giúp tiệm sex toy Núi Lửa trước nhà tăng doanh số được bịch nào. Em chỉ là một người bình thường như bao nhiêu người khác. Chẳng ai buồn để tâm đến thời khắc em vùng vẫy ọ ọ dưới đầu sợi dây, hay lúc em đau đớn co giật trên giường, hay lúc em loi ngoi ục ục giữa dòng nước, hay lúc đầu em đập mạnh xuống nền đá, vỡ tóe ra bao nhiêu là óc và máu. Có chăng chẳng qua chỉ là một ý nghĩ vu vơ, rằng đúng lúc ấy không biết nó có tiếc nuối gì cuộc sống hay không nhỉ, người chết có linh hồn không nhỉ, bác ơi sống khôn thác thiêng hãy độ trì cho xã hội đi lên bác nhỉ. Tại vì chẳng ai biết trước khi chết người ta nghĩ gì, muốn nghe câu hò Nghệ Tĩnh hay câu hát khựa, nên chi việc ấy kể ra cũng đáng để cho báo Quân Đội Nhân Dân tò mò.  » Còn nữa chưa hết, bấm vào đây để đọc tiếp đừng ngại «