Đã đến đây và đã ra đi

Những ngày cuối năm này, tôi ở Lindau. Lindau là một hòn đảo trên hồ Bodensee, nằm ở phía Nam vùng Bavaria. Khi tôi đến đây thì trời vừa mưa xong, có một chiếc cầu vồng hiện ra trên mặt hồ. Đảo Lindau bé tí, có đâu chừng trăm nóc nhà, một tượng sư tử, một ngọn hải đăng, mấy quán cà phê, một hiệu sách cũ, con đường lát đá, nhánh cây khô, và tiếng lít nhít gọi nhau của bầy vịt nước. Đêm Giáng sinh tôi đứng ở một góc đường đối diện nhà thờ, tay cầm cốc glühwein là thứ vang nóng ở đây người ta vẫn uống vào mùa lạnh, và nghe tiếng đại phong cầm vọng ra từ trong thánh đường, tiếng dương cầm chơi bài Hallelujah và mấy bài nữa mà tôi không biết tên.

Tôi đi trên bờ hồ. Đằng xa xa, dãy Alps chìm trong sương. Bầy vịt nước vẫn gọi nhau lít nhít. Thỉnh thoảng lại có tiếng diệc kêu, làm tôi nhớ đến đồi cọ Con Diệc Xanh và Doña Bárbara, cuốn sách tôi đọc hồi nhỏ, trong có những cách nói ngồ ngộ mà đến giờ thỉnh thoảng tôi vẫn dùng mỗi khi muốn tỏ ra sâu sắc: “Có những người, giữa nghĩ và làm, tóc bạc mọc ra,” “Tôi chỉ mong muốn có một mảnh đất nhỏ nhoi để bao giờ cũng được đứng ở chính giữa nơi thuộc quyền sở hữu của tôi, cho dù tôi đứng ở bất cứ chỗ nào,” “Người có thể nói Pajarote không dám làm việc này hay việc khác chưa sinh ra đời,” và tất nhiên là bài ca mà ông già chột mắt Ambrosio vẫn ca vào các buổi vũ hội trong mùa chia đàn, khi bọn đàn ông ùa về phía các cô gái để mời nhảy:

Em, Chipolita
Anh muốn em phô ra
Cho riêng anh xem núm vú.
Chipolita, em
Anh muốn em cho xem
Trước khi người khác thấy.

Tôi còn nhớ, hồi ấy mỗi khi trốn trong buồng đọc đến đoạn này tôi lại cười hí hí, ở ngoài không ai hiểu vì sao.

Đọc tiếp

Bây giờ đang tiết xuân

Chị đưa anh cuốn sách với lời đề tặng “Tặng thằng em lang thang.” Anh hỏi “Cái gì mà lang thang?” Chị không trả lời, nhưng cuốn sách tiếp theo chị cũng viết y nguyên lời đề tặng ấy. Chỉ khác là lần này chị gặp anh ở một thành phố khác cách đó chừng mười nghìn cây số, khoảng mười lăm giờ bay. Anh nói “Thôi toàn viết truyện sến, không đọc đâu.” Chị thủng thẳng “Đọc hay không là chuyện của mày.”

Cái thành phố nơi anh ở cũng có nhiều người lang thang. Mỗi buổi sáng khi đi làm, anh vẫn vẫy tay chào ông già râu ria xồm xoàm ngồi trước thềm nhà hát lớn. Ông già có bộ mặt đỏ gay vì hay uống rượu, cứ cào mấy ngón tay đen đúa vào mớ tóc bù xù cáu bẩn, thỉnh thoảng quát to một tiếng để dọa cho mấy con chim bồ câu đang kiếm ăn gần đó giật mình bay mất, rồi lại trở mu bàn tay quệt nước dãi chảy bên khóe miệng và cười hềnh hệch. Mùa đông lạnh, tuyết bay đầy trời, bồ câu không đến nữa, ông quấn quanh mình tấm chăn rách nát mà nằm ngủ, tuyết phủ đầy mặt cũng không hay biết. Anh đi ngang qua mấy lần định đưa tay vẫy, nhưng thấy ông ngủ rồi nên lại thôi.

Trong một tờ tạp chí ngày xưa anh vẫn đọc, người ta có giải thích câu Lang bạt kì hồ. Người ta bảo dân gian đã liên hệ “lang” với “lang thang,” “bạt” với “phiêu bạt,” rồi “hồ” với “giang hồ,” mà tạo ra cái nghĩa “sống lang thang rày đây mai đó,” chứ lang bạt kì hồ vốn dĩ không có nghĩa ấy. Người ta bảo lang bạt kì hồ, tái trí kì vĩ nguyên thủy là mấy câu trong Kinh Thi, tả một con sói giẫm lên cái yếm của nó rồi vấp phải cái đuôi, cứ lúng ta lúng túng không biết làm sao. Lúc ấy anh đã nghĩ, thật ra nếu vì lúng ta lúng túng không biết làm sao mà cứ phải sống rày đây mai đó thì cũng hợp lí thôi. Kiểu như mùa đông sắp hết thì nên làm gì, mùa xuân đã đến thì đi đâu nữa. Như một người lưu lạc tha phương uống rượu một mình, không biết rót về đâu cho phải: Dư trường trịch hướng đông minh thủy, đông minh chi thủy vạn đội khởi cuồng lan / Dư trường trịch hướng tây sơn vũ, tây sơn chi vũ nhất trận hà uông dương – “Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn / Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan.” Anh nghĩ, con chó sói giẫm lên cái yếm rồi vấp phải cái đuôi của nó, hay con chim én trời rét bay về phương nam, trời ấm lại bay về phương bắc, chung quy lại thì cũng vậy thôi, có gì đâu mà phải bàn nhiều.

Đọc tiếp

Nhớ Pippa

Năm lớp sáu, tôi chuyển xuống thành phố học. Tiếng là ở nhà chị, nhưng thật ra những năm tháng đó tôi gần như ở một mình. Tôi tự lên thời gian biểu. Tôi tự giặt giũ quần áo. Mùa đông trời rét, gió thổi căm căm, tôi lên sân thượng múc nước trong bồn xối tắm thay vì dùng phòng tắm chung dưới nhà. Đến bữa tôi thường đơm một bát cơm, gắp con cá kho, mang lên phòng vừa ăn vừa đọc sách.

Sách không có nhiều, nên tôi lân la mượn bạn, rồi đọc thích quá mà quên trả. Bạn méc với cô giáo, cô giáo báo lại với phụ huynh, tức là chị tôi. Chị tôi thương em nhưng tính tình khắc nghiệt, khi la mắng thường hay nặng lời. Chị tôi gọi tôi là đồ tham lam và ăn cắp. Khi tôi rụt rè xin tiền đi học võ, đâu như là Taekwondo, chị nhiếc tôi bằng nhiều từ rất khó nghe. Bạn đến nhà học nhóm, tôi mang máy cassette dưới phòng khách lên mở mấy bài của 911, bị chị quát là bắt chước bọn nhà giàu làm “ba cái trò tư bản,” bắt tắt đi và đem trả về chỗ cũ cho kì được.

Những năm đó tôi không đến nỗi đói ăn, nhưng ở nhà ngoài chai sữa đậu nành đặt người ta giao mỗi sáng thì chẳng có quà vặt gì, mà cũng không có tiền để mua. Nên khi đến nhà bạn chơi, tôi thích nhất là cái tủ lạnh. Chẳng ai dạy tôi cách cư xử, tôi hay mở tủ lạnh nhà bạn ra nhìn xem có gì ngon không, mặc dù không dám tự tiện lấy ăn. Dần dần bạn tôi không rủ tôi đến nhà chơi nữa, mà tôi chẳng hiểu vì sao.

Vốn tôi cũng không có nhiều bạn lắm. Và vì không có nhiều bạn, nên cũng ít khi tôi được ai mời dự sinh nhật. Thảng hoặc có người mời thì tôi cũng không dám đi, vì không có tiền mua quà cho bạn. Năm thì mười hoạ để dành mua được món gì rẻ tiền làm quà mà đi thì cuối cùng tôi cũng chỉ ngồi nép một góc, ngượng ngập nhìn những món quà đắt tiền khác, những gấu bông xe điện màu mè sặc sỡ mà người khác mang đến. Những buổi tiệc ấy tôi thường về sớm, lấy cớ là nhà đóng cửa trước chín giờ.

Giờ thì tôi nghĩ, chính những năm tháng đó đã tạo cho tôi thói quen ở một mình, hay suy nghĩ lan man, và dễ tủi thân. Đọc tiếp

Trong những ngày tháng đó

Trong những ngày tháng đó anh không còn tin bản chất con người là tốt đẹp.

Trong những ngày tháng đó anh không còn tin con người đáng được hưởng những điều tốt đẹp.

Trong những ngày tháng đó anh quên đi những người bất hạnh và nghèo khổ. Xung quanh anh là quần là áo lượt, là lí tưởng và hoài bão, là siêu thị đầy thịt cá và rau quả, là một quán cà phê đông khách ở ngã tư gần trung tâm thành phố.

Trong những ngày tháng đó anh không còn nhớ đến những con người mà anh vẫn nói là còn không biết chữ “hoài bão” viết thế nào cho đúng.

Trong những ngày tháng đó anh không còn viết nữa. Anh nghĩ, hay những điều anh viết thôi đều đã cũ cả rồi.

Trong những ngày tháng đó đôi khi anh đi dạo một mình trong công viên. Nhưng công viên ở đây không có dế kêu, không có cỏ lau sau cơn giông mọc cao quá đầu người, cũng không có cây cầu đá bắc ngang con lạch nhỏ. Đọc tiếp

Gửi những nhà trí thức

Từ lâu tôi đã không thích khi nghe người ta gọi nhân dân là lừa. Bọn lừa. Giống lừa. Tộc lừa. Xứ Lừa. Theo kiểu nhân dân thì ngu dốt tối tăm, nhân dân xấu xa bẩn thỉu, nhân dân vừa độc ác lại vừa hèn hạ. Kiểu gọi này là của những nhà trí thức, những người có cái may mắn được tiếp cận với tri thức, được sinh ra từ một cái lỗ khác, ngủ dưới một mái nhà khác, ngồi dưới một mái trường khác, đa phần nhờ số phận đẩy đưa chứ không nhờ một cố gắng cá nhân nào đáng kể. Trí thức dạng ấy mỗi ngày một đông, họ xếp thành vòng tròn, bưng bô cho nhau, liếm gót nhau mà phát triển thành phường hội. Bất cứ nơi nào tôi đi qua cũng có một vài trí thức đang ngoạc mồm ra mà gọi: Bọn lừa. Giống lừa. Tộc lừa. Xứ Lừa. Họ gọi Lừa một cách hả hê sung sướng, giống như tất cả những kẻ hả hê sung sướng khi đang chễm chệ cái thân hình lành lặn, cái cổ đầy nọng, cùng cặp mông đít béo tốt trên ghế sô pha khi có một người què cụt đui mùi lết qua.

Phải, thưa các anh, nhân dân thì tăm tối và ngu dốt. Nhân dân thì bẩn thỉu, độc ác và hèn hạ. Cái này tôi không cãi, vì sự thể nó rành rành ra đấy. Ngoài Bắc, sau mấy lần bành trướng diện tích vì những lí do hiểm hóc mà mắt thường không nhìn thấy được, Hà Nội đã vọt lên dẫn đầu cả nước về số lượng người mù chữ. Một số người thủ đô không biết gốc hay không, có lẽ vì sự căm phẫn, đã có thói quen gọi người dân những tỉnh bị sát nhập là bọn Hà Nhì, ví dụ “chúng ló nà cái bọn Hà Nhì” “ô cái bọn Hà Nhì khốn lạn.” Ví dụ trong Nam, hồi xưa chỗ tôi chạy bàn có một ông hành nghề đánh giày, sáng nào trước khi làm việc ổng cũng ngồi dưới gốc cây cột điện mà đọc báo. Cho đến một ngày kia người ta phát hiện ra ổng cầm tờ báo ngược, thì ổng chuyển sang nghe đài BBC. Ngược ra Trung, Quảng Nam quê tôi và các xứ, lân cận là Quảng Ngãi, xa xa hơn tí là Quảng Trị Quảng Bình, thì thuần nổi tiếng vì tệ nạn ông già hiếp dâm con nít, hoặc đốt người ăn trộm chó, hoặc chết vì vướng dây điện rào ruộng dưa, không năm nào là không có. Như thế, nếu bảo rằng nhân dân tăm tối bẩn thỉu hèn hạ, quả tình cũng không oan. Đọc tiếp