Không còn ai gửi cho ai

Tôi ở đây không hay có thư. Hòm thư của tôi thường rỗng không, bám đầy bụi, lâu lâu mới có một thư thông báo đóng tiền phí radio, thư xin lỗi vì sau nhà có công trình đang xây dựng ồn ào, hay thư ngân hàng đòi đóng bảo hiểm, đòi đăng kí mã số thuế. Thuế nơi này cao chót vót, có đến đâu chừng ba mươi loại, từ loại cơ bản như thuế thu nhập cá nhân cho đến những loại kì quặc như thuế chó, thuế mại dâm, thuế nhà thờ. Phí radio là một loại phí vô lí, ai ai cũng phải đóng, nhà có nghe radio có xem truyền hình hay không cũng mặc. Đồng nghiệp tôi bảo, ngày trước khi loại phí này chưa được phổ cập, nhân viên sở thuế còn trèo tường dòm vào nhà người ta như khỉ đu cột điện vậy, nếu thấy trong nhà có ti-vi cát-sét gì thì lập tức gửi giấy đòi tiền. Tôi bảo đất nước mày sao giống như có truyền thống trèo tường thế, xong đồng nghiệp tôi cười hề hề, nói một câu gì đó bằng tiếng Đức có cả đông tây nam bắc, và eins, zwei, và polizei.

Khi còn nhỏ tôi không thích viết thư – tôi vốn dị ứng với những gì mà tôi cho là sến súa, tôi chỉ hay đọc cho cha mẹ nghe những lá thư mà anh chị tôi gửi về từ Hà Nội, những lá thư lúc nào cũng kết thúc bằng dòng chữ bất di bất dịch “Cuối thư không có gì hơn con xin kính chúc cha mẹ mạnh khỏe, cầu cho gia đình mình được bình an, đừng lo cho con, con ở đây mọi thứ vẫn thường.” Lên cấp hai tôi bất quá cũng chỉ viết lèo tèo mấy lá thư quốc tế UPU gửi các chú bộ đội chắc tay súng canh giữ ngoài biên cương hải đảo, gửi những bạn Cu-ba bạn Miến Điện bạn Lào, những người tôi hoặc tưởng tượng ra hoặc chẳng hề biết đấy là đâu. Phải đến khi lên đại học tôi mới hay viết thư. Tôi chuyển từ Đà Nẵng vào Sài Gòn, buổi trưa khi mọi người ngủ thì tôi vào hoạ thất, hí hoáy kể cho bạn nghe chuyện số nhà bên Bình Thạnh, chuyện quả chò nâu rơi dọc đường Điện Biên Phủ, chuyện cây đinh cắm trên hồ Con Rùa, chuyện con đường nước ngập tới gối khi trời mưa, chuyện những cây cầu sắt bắc qua sông, chuyện nhà ga xe lửa có đầu tàu gỉ sét. Bạn tôi cũng viết thư trả lời, kể chuyện đi chơi, chuyện họp lớp, bạn tôi viết “tau thấy cái trò thư từ ni thiệt là cũ kĩ lạc hậu” xong lại viết “mi đừng lo, tụi tau ai cũng nhớ mi, cái mặt mi câng câng.” Mỗi tuần tôi gửi một lá thư, nhận một lá thư. Có tuần tôi gửi hai ba lá thư, rồi nhận hai ba lá thư. Dần dà tôi có cả một chồng thư. Chồng thư ấy tôi vẫn để trên kệ sách. Sau này bạn bè li tán, tôi không viết nữa, cũng không chờ thư nữa. Nói cho đúng ra, tôi không còn nghĩ đến thư từ gì nữa. Cho đến khi tôi đi châu Âu, nơi mà trước cửa mỗi nhà đều có một hòm thư.

Đọc tiếp

Đã đến đây và đã ra đi

Những ngày cuối năm này, tôi ở Lindau. Lindau là một hòn đảo trên hồ Bodensee, nằm ở phía Nam vùng Bavaria. Khi tôi đến đây thì trời vừa mưa xong, có một chiếc cầu vồng hiện ra trên mặt hồ. Đảo Lindau bé tí, có đâu chừng trăm nóc nhà, một tượng sư tử, một ngọn hải đăng, mấy quán cà phê, một hiệu sách cũ, con đường lát đá, nhánh cây khô, và tiếng lít nhít gọi nhau của bầy vịt nước. Đêm Giáng sinh tôi đứng ở một góc đường đối diện nhà thờ, tay cầm cốc glühwein là thứ vang nóng ở đây người ta vẫn uống vào mùa lạnh, và nghe tiếng đại phong cầm vọng ra từ trong thánh đường, tiếng dương cầm chơi bài Hallelujah và mấy bài nữa mà tôi không biết tên.

Tôi đi trên bờ hồ. Đằng xa xa, dãy Alps chìm trong sương. Bầy vịt nước vẫn gọi nhau lít nhít. Thỉnh thoảng lại có tiếng diệc kêu, làm tôi nhớ đến đồi cọ Con Diệc Xanh và Doña Bárbara, cuốn sách tôi đọc hồi nhỏ, trong có những cách nói ngồ ngộ mà đến giờ thỉnh thoảng tôi vẫn dùng mỗi khi muốn tỏ ra sâu sắc: “Có những người, giữa nghĩ và làm, tóc bạc mọc ra,” “Tôi chỉ mong muốn có một mảnh đất nhỏ nhoi để bao giờ cũng được đứng ở chính giữa nơi thuộc quyền sở hữu của tôi, cho dù tôi đứng ở bất cứ chỗ nào,” “Người có thể nói Pajarote không dám làm việc này hay việc khác chưa sinh ra đời,” và tất nhiên là bài ca mà ông già chột mắt Ambrosio vẫn ca vào các buổi vũ hội trong mùa chia đàn, khi bọn đàn ông ùa về phía các cô gái để mời nhảy:

Em, Chipolita
Anh muốn em phô ra
Cho riêng anh xem núm vú.
Chipolita, em
Anh muốn em cho xem
Trước khi người khác thấy.

Tôi còn nhớ, hồi ấy mỗi khi trốn trong buồng đọc đến đoạn này tôi lại cười hí hí, ở ngoài không ai hiểu vì sao.

Đọc tiếp

Bây giờ đang tiết xuân

Chị đưa anh cuốn sách với lời đề tặng “Tặng thằng em lang thang.” Anh hỏi “Cái gì mà lang thang?” Chị không trả lời, nhưng cuốn sách tiếp theo chị cũng viết y nguyên lời đề tặng ấy. Chỉ khác là lần này chị gặp anh ở một thành phố khác cách đó chừng mười nghìn cây số, khoảng mười lăm giờ bay. Anh nói “Thôi toàn viết truyện sến, không đọc đâu.” Chị thủng thẳng “Đọc hay không là chuyện của mày.”

Cái thành phố nơi anh ở cũng có nhiều người lang thang. Mỗi buổi sáng khi đi làm, anh vẫn vẫy tay chào ông già râu ria xồm xoàm ngồi trước thềm nhà hát lớn. Ông già có bộ mặt đỏ gay vì hay uống rượu, cứ cào mấy ngón tay đen đúa vào mớ tóc bù xù cáu bẩn, thỉnh thoảng quát to một tiếng để dọa cho mấy con chim bồ câu đang kiếm ăn gần đó giật mình bay mất, rồi lại trở mu bàn tay quệt nước dãi chảy bên khóe miệng và cười hềnh hệch. Mùa đông lạnh, tuyết bay đầy trời, bồ câu không đến nữa, ông quấn quanh mình tấm chăn rách nát mà nằm ngủ, tuyết phủ đầy mặt cũng không hay biết. Anh đi ngang qua mấy lần định đưa tay vẫy, nhưng thấy ông ngủ rồi nên lại thôi.

Trong một tờ tạp chí ngày xưa anh vẫn đọc, người ta có giải thích câu Lang bạt kì hồ. Người ta bảo dân gian đã liên hệ “lang” với “lang thang,” “bạt” với “phiêu bạt,” rồi “hồ” với “giang hồ,” mà tạo ra cái nghĩa “sống lang thang rày đây mai đó,” chứ lang bạt kì hồ vốn dĩ không có nghĩa ấy. Người ta bảo lang bạt kì hồ, tái trí kì vĩ nguyên thủy là mấy câu trong Kinh Thi, tả một con sói giẫm lên cái yếm của nó rồi vấp phải cái đuôi, cứ lúng ta lúng túng không biết làm sao. Lúc ấy anh đã nghĩ, thật ra nếu vì lúng ta lúng túng không biết làm sao mà cứ phải sống rày đây mai đó thì cũng hợp lí thôi. Kiểu như mùa đông sắp hết thì nên làm gì, mùa xuân đã đến thì đi đâu nữa. Như một người lưu lạc tha phương uống rượu một mình, không biết rót về đâu cho phải: Dư trường trịch hướng đông minh thủy, đông minh chi thủy vạn đội khởi cuồng lan / Dư trường trịch hướng tây sơn vũ, tây sơn chi vũ nhất trận hà uông dương – “Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn / Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan.” Anh nghĩ, con chó sói giẫm lên cái yếm rồi vấp phải cái đuôi của nó, hay con chim én trời rét bay về phương nam, trời ấm lại bay về phương bắc, chung quy lại thì cũng vậy thôi, có gì đâu mà phải bàn nhiều.

Đọc tiếp

Nhớ Pippa

Năm lớp sáu, tôi chuyển xuống thành phố học. Tiếng là ở nhà chị, nhưng thật ra những năm tháng đó tôi gần như ở một mình. Tôi tự lên thời gian biểu. Tôi tự giặt giũ quần áo. Mùa đông trời rét, gió thổi căm căm, tôi lên sân thượng múc nước trong bồn xối tắm thay vì dùng phòng tắm chung dưới nhà. Đến bữa tôi thường đơm một bát cơm, gắp con cá kho, mang lên phòng vừa ăn vừa đọc sách.

Sách không có nhiều, nên tôi lân la mượn bạn, rồi đọc thích quá mà quên trả. Bạn méc với cô giáo, cô giáo báo lại với phụ huynh, tức là chị tôi. Chị tôi thương em nhưng tính tình khắc nghiệt, khi la mắng thường hay nặng lời. Chị tôi gọi tôi là đồ tham lam và ăn cắp. Khi tôi rụt rè xin tiền đi học võ, đâu như là Taekwondo, chị nhiếc tôi bằng nhiều từ rất khó nghe. Bạn đến nhà học nhóm, tôi mang máy cassette dưới phòng khách lên mở mấy bài của 911, bị chị quát là bắt chước bọn nhà giàu làm “ba cái trò tư bản,” bắt tắt đi và đem trả về chỗ cũ cho kì được.

Những năm đó tôi không đến nỗi đói ăn, nhưng ở nhà ngoài chai sữa đậu nành đặt người ta giao mỗi sáng thì chẳng có quà vặt gì, mà cũng không có tiền để mua. Nên khi đến nhà bạn chơi, tôi thích nhất là cái tủ lạnh. Chẳng ai dạy tôi cách cư xử, tôi hay mở tủ lạnh nhà bạn ra nhìn xem có gì ngon không, mặc dù không dám tự tiện lấy ăn. Dần dần bạn tôi không rủ tôi đến nhà chơi nữa, mà tôi chẳng hiểu vì sao.

Vốn tôi cũng không có nhiều bạn lắm. Và vì không có nhiều bạn, nên cũng ít khi tôi được ai mời dự sinh nhật. Thảng hoặc có người mời thì tôi cũng không dám đi, vì không có tiền mua quà cho bạn. Năm thì mười hoạ để dành mua được món gì rẻ tiền làm quà mà đi thì cuối cùng tôi cũng chỉ ngồi nép một góc, ngượng ngập nhìn những món quà đắt tiền khác, những gấu bông xe điện màu mè sặc sỡ mà người khác mang đến. Những buổi tiệc ấy tôi thường về sớm, lấy cớ là nhà đóng cửa trước chín giờ.

Giờ thì tôi nghĩ, chính những năm tháng đó đã tạo cho tôi thói quen ở một mình, hay suy nghĩ lan man, và dễ tủi thân. Đọc tiếp

Trong những ngày tháng đó

Trong những ngày tháng đó anh không còn tin bản chất con người là tốt đẹp.

Trong những ngày tháng đó anh không còn tin con người đáng được hưởng những điều tốt đẹp.

Trong những ngày tháng đó anh quên đi những người bất hạnh và nghèo khổ. Xung quanh anh là quần là áo lượt, là lí tưởng và hoài bão, là siêu thị đầy thịt cá và rau quả, là một quán cà phê đông khách ở ngã tư gần trung tâm thành phố.

Trong những ngày tháng đó anh không còn nhớ đến những con người mà anh vẫn nói là còn không biết chữ “hoài bão” viết thế nào cho đúng.

Trong những ngày tháng đó anh không còn viết nữa. Anh nghĩ, hay những điều anh viết thôi đều đã cũ cả rồi.

Trong những ngày tháng đó đôi khi anh đi dạo một mình trong công viên. Nhưng công viên ở đây không có dế kêu, không có cỏ lau sau cơn giông mọc cao quá đầu người, cũng không có cây cầu đá bắc ngang con lạch nhỏ. Đọc tiếp